Glucose Là Thuốc Gì ? Định Lượng Và Các Chỉ Định Khi Dùng

Glucose là thuốc gì ? Thuốc Glucose có nhiều dạng và nồng độ khác nhau. Tác dụng chính của nó là để điều trị thiếu hụt đường và như một dung dịch vô trùng tiêm truyền tĩnh mạch. Bên cạnh việc hiểu rõ các tác dụng thì định lượng, các lưu ý chỉ định khi dùng thuốc cũng rất quan trọng. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu rõ các tác dụng hữu ích của thuốc glucose và định lượng của glucose là gì. Hy vọng bài viết sẽ giải đáp được các thắc mắc của bạn.

1. Glucose Là Thuốc Gì ?

Glusose là đường đơn 6 carbon, dưới dạng thuốc có thể dùng theo đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Đối với dạng thuốc glucose bằng dung dịch 5% glucose khan đẳng trương với huyết thanh. Dung dịch ưu trương 10%; 15%; 30%; 40%; 50% đựng trong ống tiêm 5 ml, trong chai 100 ml, 250 ml, 500 ml. Hoặc còn có dạng bột, pha để uống.

1.1. Glucose 5 là thuốc gì ?

Dịch truyền glucose 5 thường được truyền khi cơ thể người cảm thấy chán ăn, sốt cao, mệt mỏi. Dịch này được truyền có tác dụng cung cấp thêm dung dịch có nồng độ đường khác nhau cho cơ thể khi bạn cần phải bổ sung nước. Một số tác dụng khác của glucose 5 như:

  • Giải độc, giải ngộ độc do Cyanide. Giải các thuốc ngủ, carbon dioxide, viêm gan hoặc xơ gan, sốc và trụy tim mạch trong trường hợp khẩn cấp
  • Bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể nếu mất nước, mất máu do nôn mửa hoặc tiêu chảy.
  • Là chất dẫn đề truyền thuốc vào cơ thể, thường được sử dụng trong và sau khi phẫu thuật
  • Phòng ngừa và điều trị chứng nhiễm Ceton huyết với các trường hợp bị suy dinh dưỡng
  • Được dùng để làm giảm chứng glucose huyết

Tuy nhiên, khi truyền dịch glucose 5 cần được đưa vào bệnh viện dưới sự hướng dẫn của bác sĩ. Nếu tự ý truyền dịch có thể gây nhiều biến chứng khó lường như phù tim, phổi, thậm chí có thể là mất mạng do người bệnh bị sốc phản vệ.

Glucose Là Thuốc Gì
Glucose Là Thuốc Gì

2. Tác Dụng Của Glucose Là Thuốc Gì ?

Trước tiên, thuốc glucose nổi tiếng với tác dụng cung cấp nước, thiếu hụt đường và dịch do cơ thể mất nước, mất máu, nôn mửa, tiêu chảy. Hoặc dùng glucose phụ trợ để tiêm  các loại thuốc khác như một dung dịch vô trùng tiêm truyền tĩnh mạch.

Glucose có thể kết hợp với các dung dịch điện giải để phòng và điều trị mất nước do ỉa chảy cấp tính. Nó còn giúp điều trị bệnh hạ đường huyết. Hoặc là làm chất vận chuyển các thuốc khác.

Ống Truyền Dịch
Ống Truyền Dịch

2.1. Lưu ý

Đối với dùng glucose để nuôi dưỡng đường tĩnh mạch có thể thực hiện qua tĩnh mạch ngoại vi hoặc tĩnh mạch trung tâm lớn hơn. Tuy nhiên, chỉ dùng qua đường tĩnh mạch ngoại vi khi nuôi dưỡng bệnh trong một thời gian ngắn hoặc khi bổ trợ thêm cho nuôi dưỡng theo đường tiêu hóa, hoặc khi người bệnh có nhiều nguy cơ tai biến nếu truyền qua đường tĩnh mạch trung tâm. Bởi vì, các tĩnh mạch ngoại vi dễ bị viêm tắc, nhất là khi dung dịch có độ thẩm thấu lớn hơn 600 mOsm/lít. Vì thế, không nên truyền vào tĩnh mạch ngoại vi các dịch truyền có nồng độ glucose cao hơn 10%.

Đối với người người bệnh suy dinh dưỡng hoặc có tăng chuyển hóa,  phải truyền các dung dịch glucose ưu trương theo đường tĩnh mạch trung tâm. Vì ở đấy dung dịch glucose được pha loãng nhanh hơn. Cần phải tìm hiểu trước nguyên nhân và truyền với tốc độ đều đều.

3. Các Chỉ Định Và Chống Chỉ Định Dùng Glucose Là Gì ?

Những người có bệnh sau đây có thể dùng glucose để điều trị:

  • Thiếu hụt carbohydrat và dịch
  • Mất nước do ỉa chảy cấp.
  • Hạ đường huyết do suy dinh dưỡng, do ngộ độc rượu
  • Tăng chuyển hóa khi bị stress hay chấn thương
  • Làm test dung nạp glucose (uống)
  • Hãy kiểm tra trước khi dùng đối với phụ nữ đang mang thai và cho con bú

Những người có tiền sử sau chống chỉ định, không được dùng glucose để điều trị:

  • Người bệnh không dung nạp được glucose
  • Mất nước nhược trương nếu chưa bù đủ các chất điện giải
  • Ứ nước
  • Kali huyết hạ
  • Hôn mê tăng thẩm thấu
  • Nhiễm toan
  • Người bệnh vô niệu, người bệnh bị chảy máu trong sọ hoặc trong tủy sống (không được dùng dung dịch glucose ưu trương cho các trường hợp này)
  • Mê sảng rượu kèm mất nước, ngộ độc rượu cấp.
  • Người bệnh sau cơn tai biến mạch não vì đường huyết cao ở vùng thiếu máu cục bộ chuyển hóa thành acid lactic làm chết tế bào não.

3. Liều Lượng Và Cách Dùng

Thực tế, liều glucose tối đa khuyên dùng là 500 – 800 mg cho 1 kg thể trọng trong 1 giờ. Bên cạnh đó, cần chú ý theo dõi lượng đường trong máu bệnh nhân. Nên sử dụng glucose theo chỉ dẫn của bác sĩ và đọc kĩ trên nhãn thuốc. Tốt nhất là tiêm glucose tại bệnh viện. Nếu truyền hoặc tiêm ở nhà hãy tuân theo các thủ tục tiêm được chỉ dẫn của đội y tế. Tẩy và vô trùng các ống tiêm, tránh xa tầm tay trẻ em và vật nuôi.

Nếu thấy glucose có hạt hay bị đổi màu, nứt lô thì đây là dấu hiệu bị hư hại, không tiêm dưới bất kỳ hình thức nào. Không nên truyền tĩnh mạch glucose cùng lúc với truyền máu. Nếu bạn quên một liều glucose, liên hệ với bác sĩ ngay lập tức.

Dạng dung dịch glucose 5% là đẳng trương với máu và dùng để bù mất nước. Hoặc truyền vào tĩnh mạch ngoại vi. Đối với dạng glucose cao hơn 5% là ưu trương với máu và được dùng để cung cấp năng lượng. Nồng độ cao 50% dùng để điều trị những trường hợp hạ đường huyết nặng ( tốc độ chỉ nên 3 ml/phút). Dạng từ 25%-50% dùng để làm giảm áp lực não – tủy và phù não do ngộ độc rượu.

Truyền Glucose
Truyền Glucose

3.1. Cách Dùng

Lưu ý phải truyền các dung dịch ưu trương qua tĩnh mạch trung tâm. Trong trường hợp cấp cứu hạ đường huyết có khi phải truyền vào tĩnh mạch ngoại vi nhưng cần phải truyền chậm. Trong nuôi dưỡng theo đường tĩnh mạch, có thể truyền dung dịch glucose đồng thời với các dung dịch có acid amin hoặc nhũ tương mỡ. Truyền riêng rẽ hoặc cùng nhau bằng hỗn hợp 3 trong 1 chứa trong cùng một chai.

Nếu kèm theo insulin phải tùy trường hợp. Nếu dùng insulin thì phải theo dõi thường xuyên đường huyết của người bệnh và điều chỉnh liều insulin. Trước khi kết hợp glucose với thành phần khác cần kiểm tra xem phù hợp hay không. Dung dịch chứa glucose và có pH < 6 có thể gây kết tủa indomethacin.

XEM THÊM THÔNG TIN LIÊN QUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *